Hệ thống tên miền

Nguồn: DNS security presentation
Domain Name System (DNS) chuyển một tên miền như www.example.com thành địa chỉ IP.
DNS có cấu trúc phân cấp, với một vài authoritative server ở tầng cao nhất. Router hoặc ISP của bạn cho biết cần liên hệ DNS server nào khi thực hiện lookup. Các DNS server ở tầng thấp hơn cache các ánh xạ, và những ánh xạ này có thể trở nên cũ do độ trễ lan truyền của DNS (DNS propagation). Kết quả DNS cũng có thể được browser hoặc hệ điều hành cache trong một khoảng thời gian nhất định, xác định bởi time to live (TTL).
- NS record (name server): Chỉ định các DNS server cho domain/subdomain của bạn.
- MX record (mail exchange): Chỉ định các mail server nhận thư.
- A record (address): Trỏ một tên tới một địa chỉ IP.
- CNAME (canonical): Trỏ một tên tới một tên khác hoặc tới một
CNAMEkhác (example.com tới www.example.com), hoặc tới mộtArecord.
Các dịch vụ như CloudFlare và Route 53 cung cấp DNS được quản lý sẵn. Một số dịch vụ DNS có thể định tuyến traffic theo nhiều cách:
- Weighted round robin
- Tránh đưa traffic tới các server đang bảo trì
- Cân bằng giữa các cluster có kích thước khác nhau
- A/B testing
- Dựa trên latency
- Dựa trên vị trí địa lý
Nhược điểm: DNS
- Truy cập một DNS server gây ra độ trễ nhỏ, dù cache như mô tả ở trên giúp giảm bớt.
- Quản lý DNS server có thể phức tạp và thường do chính phủ, ISP và các công ty lớn đảm nhiệm.
- Các dịch vụ DNS gần đây từng bị tấn công DDoS, khiến người dùng không vào được các website như Twitter nếu không biết địa chỉ IP của Twitter.